Ẩm thực độc đáo thành phố Huế

Du lịch Đà Nẵng

Miền Trung

Tác giả/Nguồn: Dế Mèn tổng hợp Ngày: 18/08/2014

Ẩm thực độc đáo thành phố Huế

( DuLichDaNang.vn ) Thành phố Huế có nhiều khung cảnh đẹp nhưng ẩm thực nơi đây mới mang lại cái hồn xứ Huế mộng mơ. Dulichdanang.vn sẽ giới thiệu đến các bạn một số “món ăn đặc sản” xứ Huế và những quán ăn ngon, mang đậm chất Huế. 

Bánh canh cá lóc

Vài năm trở lại đây, bánh canh cá lóc đã chiếm vị trí độc tôn. Có cả một phố bánh canh dọc đoạn quốc lộ 1A trước cổng Nhà máy dệt Huế (người ta gọi là bánh canh cá lóc Thủy Dương). Cả chục quán san sát bên nhau nằm kề lộ mà quán nào cũng đông.

Ở Huế, lâu nay người ta chỉ thấy những người bán cháo canh rong buổi sáng, nhưng không phải là bánh canh cá lóc, mà là bánh bột mì nấu với da lợn, chả thịt nạc, chả cua.

Vài năm trở lại đây, bánh canh cá lóc đã chiếm vị trí độc tôn. Có cả một phố bánh canh dọc đoạn quốc lộ 1A trước cổng Nhà máy dệt Huế (người ta gọi là bánh canh cá lóc Thủy Dương). Cả chục quán san sát bên nhau nằm kề lộ mà quán nào cũng đông. Trên đường Mai Thúc Loan có tới ba quán bánh canh cá lóc bán vào buổi chiều. Dân ghiền bánh canh cá lóc không chỉ là bình dân, mà phần nhiều là dân đi xe con, khách du lịch... Có người cứ đúng giờ quán mở buổi sáng hoặc buổi chiều là có mặt, dù có phải đi xa dăm ba cây số.

Bánh canh cá lóc hấp dẫn người ăn vì hương vị đặc biệt của nó. Các mệ nói nguyên liệu chính để làm món bánh canh phải là bột gạo và cá lóc. Gạo ngâm đủ độ mới xay, sau đó sú bột và cho vào cối giã như giã giò. Người ta giã bột tới hai, ba giờ sáng, cho tới lúc bột "chín". Lúc đó bột chặt, dai mà không dính tay. Giờ đây cũng có người xay bột máy nhưng theo kinh nghiệm của các bà, các mẹ thì giã bằng tay bánh canh sẽ ngon hơn. Khi bột đạt yêu cầu, lăn mỏng cắt rời từng "con", nấu chín bột vẫn không bị nhão.

Cá lóc hấp chín tới, thịt săn chắc, tách riêng thịt cá, lòng cá. Xương và đầu cá đem giã nhỏ lọc lấy nước đun lên làm nước dùng. Lòng cá lóc là món "đặc sản" quý để dành bán cho khách quen đặt trước. Thịt cá ướp gia vị, rắc chút hạt tiêu, ớt, hành... um lên thật thơm. Thưởng thức bánh canh phải nóng mới ngon vì con bánh giòn, bùi, thịt cá lóc thơm ngon... vừa ăn vừa xuýt xoa toát mồ hôi vì nóng, và vị cay của ớt mới thấy hết cái ngon, cái thú vị của bánh canh cá lóc.

Ở trong thành phố có khá nhiều quán bánh canh cá lóc, đặc biệt được bán vào các buổi chiều. Đi dọc các đường Đống Đa, Nguyễn Huệ, Mai Thúc Loan, đặc biệt vào các buổi chiều, có thể tìm thấy rất nhiều các quán bánh canh cá lóc trong thành phố.

Bánh canh Nam Phổ 

Đó không phải quán, mà chỉ là chỗ ngồi ké bên hiên một ngôi nhà cũ. Người ăn xúm quanh. Hình như khách quen cả, bởi họ xưng hô với bà bán hàng thân mật lắm. Thỉnh thoảng có xe máy trờ đến, cất tiếng: “Mệ ơi, còn không?”. Cơn mưa chiều dữ dội ào đến. Tôi đỡ giúp đôi gánh cho bà né vào trong tránh mưa.

Đến chợ Dinh (P.Phú Hậu, TP Huế), hỏi mệ Sau bán bánh canh Nam Phổ, ai cũng biết. “Chỗ ni mệ ngồi đã hơn 10 năm rồi”. “Sao mệ nói 10 năm? Con về làm dâu ở đây đã 16 năm, đã có mệ rồi mà” - một người khách nhanh nhảu cải chính.

Gia tài của bà Sau là một đôi gióng và chiếc đòn gánh cong vít, lên nước nhẵn bóng. Bà gánh một bên một cái nồi to đựng bánh canh, đầu kia là chén bát và chiếc đòn kê để ngồi.

Đã gần 90 tuổi, nhưng mắt bà Sau còn tinh lắm, múc bánh vào tô rất gọn ghẽ. Già yếu rồi, gánh không nổi, trưa bà chất hết lên xích lô, chiều mới quảy gánh về Vỹ Dạ.

Vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa múc bánh cho khách, bà chỉ vào cái nồi bánh cũng đã cũ mòn: “Ngó rứa chứ không dám phụ nó đâu, nó giúp mệ sống đó”.

Lấy chồng khi 25 tuổi, cũng là lúc bà Sau bắt đầu quảy gánh bánh canh đi bán. Đôi chân bà đã lội khắp những con đường rợp bóng cây của thành phố Huế. 20 năm trở lại đây, bà chọn chợ Dinh làm điểm dừng. Cứ hết ngồi chỗ này rồi chuyển chỗ kia. Anh chủ nhà nơi bà đang ngồi bây giờ thấy vậy bèn mời bà đến ngồi trước hiên.

Tôi ướm hỏi: “Răng mệ nấu ngon rứa mệ?”, thì nhận được câu trả lời: “Không biết nữa, cứ nấu đúng, đủ vị là được. Mình sống nhờ nó, bán từ năm này qua tháng khác, nấu dở thì ai ăn, chỉ có chết đói”.

Sáng 5 giờ, bà Sau dậy ngâm bột, rồi chạy ra chợ lựa tôm, thịt. Tôm phải là tôm đầm phá, thịt đậm đà, không tanh. Thịt heo phải là thịt ba chỉ vừa nạc vừa mỡ và phải dày.

Tôm và thịt heo mua về được trộn đều, giã nhỏ, ướp gia vị vừa phải và viên thành chả. Trong quá trình giã, bà trộn một ít màu điều cho đẹp.

Trưa, bà bắt đầu nhen lửa nấu bánh canh. Điều đáng nói là không biết vì sao và do đâu mà người ta đặt cho món ăn nấu bằng bột gạo đựng trong tô mà lại gọi là bánh, nhưng bánh bằng canh. Bột làm bánh là thứ được lựa chọn từ gạo ngon, được nhồi kỹ, rồi cán mỏng bằng cái ống tre hay cái chai đặt lên một tấm thớt. Dùng dao xắt bột thành từng con, mỗi con dài lại xắt thành những đoạn ngắn.

Khi bột trong nồi vừa chín thì bỏ tôm và thịt đã viên vào, đến lúc đáy nồi vừa sền sệt thì vùi lửa để giữ nóng. Nấu xong một nồi bánh hết chừng hai giờ đồng hồ. Chừng đó thì ăn được rồi, nhưng còn thiếu một thứ, chính là nước mắm.

Bà nói: “Quen rồi, không thể dùng nước mắm chai bày bán khắp nơi, mà phải dùng thứ nước mắm cốt làm từ con khuyết, có màu vàng sậm như mật ong, bỏ hạt cơm vào là nổi lên trên”.
Chỉ vậy thôi, nhưng bánh canh Nam Phổ nức tiếng thiên hạ. Món ăn này ai cũng ưa, thích hợp cho mọi lứa tuổi.

“Bánh canh Nam Phổ ăn hiền”, đó là lời ngợi khen của các thực khách khó tính nhất, bởi vì món này dễ tiêu, không nặng bụng như các thức ăn khác.

Nhìn tô bánh canh nửa trắng pha hồng, nghe giọng nói nhẹ nhàng của cô gái Huế, ăn vào như thấy tiêu dao.

Nhà thơ hoàng tộc Ưng Bình Thúc Giạ Thị từng viết: Mời chị mời anh chén bánh canh Nam Phổ/Xơi vô bổ khỏe, có chất, có mùi hương/ Lại thêm mát mẻ can trường/ Sâm Cao Ly cũng sút, rượu Quỳnh Tương cũng không bì.

Cũng như bao gánh bánh canh khác ở làng Nam Phổ, bà Sau gánh đi bán chứ không mở tiệm. Ngày xưa, cứ tầm 1-2 giờ chiều, từng đoàn người kĩu kịt đôi gánh trên vai đi từ làng Nam Phổ cách Vỹ Dạ chừng 6 km, tỏa khắp thành Huế. Nhưng bây giờ qua rồi cái thời quang gánh, người ta chở bánh canh đi bán bằng xe đạp. Bà Sau không biết đạp xe, nên phải gánh.

Tôi nhìn bà. 60 năm một gánh bánh canh, không biết bà đã đi bao nhiêu bước chân, mưa cũng như nắng, Xuân cũng như đông, gánh cả đời người, không riêng gì bà mà là cả gia đình trên đó. Thiên hạ tuổi này đã nghỉ ngơi, nhưng chiếc đòn gánh và nồi bánh kia vẫn chưa chịu rời vai bà.

Ở cái tuổi gần đất xa trời, nhưng bà vẫn phải nuôi ông chồng đã 98 tuổi và đứa cháu ngoại bị tai biến nằm một chỗ. Trời không cho bà nghỉ, trừ những ngày lụt, không thể bán được. Cùng lứa với bà có mệ Duyên, cũng vừa nghỉ bán. Lớp người như bà, đi bán bánh canh cũng mặc áo dài. “Quen rồi, mới bỏ cách đây chừng 10 năm, bởi giờ chẳng ai mặc nữa”.

Mưa nắng trần ai phủ xuống đôi vai gầy guộc như tiếng nói của đời người - đời bánh, nhọc nhằn mà chung thủy. “Sao bánh canh Nam Phổ chỉ bán vào buổi chiều hả mệ?”. “Vì buổi sáng có tôm, thịt tươi, thức ăn mới ngon, chứ đi bán sáng thì tôm cua phải làm từ chiều hôm trước, để qua đêm, nấu lại sẽ không còn ngon nữa”.

Chắt chiu miếng ngon cho thiên hạ, ấy cũng là cái tình mênh mông của người bán. Một nồi bánh chỉ lãi 50.000 đồng, mà tôi thấy bà cứ xem nhẹ thênh.

Với đôi gánh trên vai, bà đi qua cuộc đời như chiếc bóng. “Mai một mệ không đi được nữa, không biết sẽ mua của ai để ăn đây?”, ai đó lên tiếng. Mệ cười: “Ừ, biết ai bây chừ...”.

Bánh khoái Huế

Bánh khoái thuộc hàng đặc sản xứ Huế. Hàng bánh khoái bây giờ có mặt khắp nơi. Trước năm 1975 ở Huế có hai tiệm bánh khoái nổi tiếng.

Bánh khoái Lạc Thiện, còn gọi là bánh khoái Thượng Tứ, vì ở ngay trước cửa Thượng Tứ. Bánh khoái Lạc Thiện tồn tại liên tục hơn 50 năm. Tiệm thứ hai của ông Nghĩa, ở đường Võ Tánh, nay là đường Nguyễn Chí Thanh. Nhà ông Nghĩa ở ngay chân cầu Đông Ba nên có tên là bánh khoái Đông Ba. Về các địa chỉ ẩm thực, người Huế có câu: Bánh khoái Đông Ba, cơm gà Gia Hội.

Sau năm 1975 gia đình ông Nghĩa đi kinh tế mới. Dịp đó gia đình tôi mới hồi hương, mẹ tôi mua lại nhà của ông Nghĩa. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp một người luống tuổi đi qua đi lại, nhìn ngó trước nhà. Cũng có người vào tận nhà hỏi thăm: Tiệm bánh khoái ngày trước chừ chuyển đi mô rồi hè? Họ là những người Huế xa xứ đã lâu, nay nhân dịp về thăm quê nên tìm về một kỷ niệm, tìm ăn bánh khoái hợp gu ở tiệm có thương hiệu. Đầu thập niên 1980 có người đến đặt vấn đề mua lại nhà tôi để mở tiệm bánh khoái, với ý tưởng phục hồi một thương hiệu vốn có để dễ thu hút khách, nhưng mẹ tôi không đồng ý.

Gần giống bánh xèo của miền Nam về nguyên liệu nhưng bánh khoái được người Huế nâng lên thành đỉnh cao của nghệ thuật ẩm thực. Ví dụ như bột làm bánh được xử lý bằng nước vôi đã lọc trong- khi ngâm gạo. Nhân bánh hấp dẫn và bắt mắt với thịt heo (hoặc thịt bò), tôm (bóc vỏ), giá đỗ, nấm hương- xào nấu vừa chín tái. Khi đổ bánh lại cho thêm một chút lòng đỏ trứng gà vào bột, để thêm ngon, thêm bổ dưỡng, và để bánh có sắc màu thật ngon con mắt.

Bánh khoái ăn nóng mới ngon, thích hợp với bữa ăn tối hơn là ăn trưa, với những ngày tiết trời se lạnh. Khách vào bàn, nhà hàng mới bắc khuôn lên lò đổ bánh. Khuôn bánh khoái làm bằng gang, hình tròn, có tay cầm. Cho dầu ăn (hoặc mỡ) vào khuôn, dầu sôi thì đổ bột vừa một lớp mỏng. Bột va vào mỡ sôi xèo xèo bốc hơi thơm thật quyến rũ. Có lẽ vì thế mà người miền Nam gọi là đổ bánh xèo. Còn người Huế, ban đầu món bánh này gọi là bánh khói. Bởi ngày trước đổ bánh trên bếp củi, quy trình đổ bánh khá lâu nên người đầu bếp bị khói cay cả mắt. Có người cho rằng vì bánh khoái vừa đổ vừa ăn nên khói từ khuôn bánh bốc lên thơm lừng, và ngay cả khi ăn bánh vẫn đang bốc khói. Về sau người ta đọc chệch khói thành khoái, rồi quen dần. Cũng có lối giải thích rằng vì đây là một món ăn khoái khẩu mà ra tên gọi bánh khoái.

Trở lại công đoạn đổ bánh. Khi bột vừa chín vàng thì gắp tôm, thịt, giá, nấm cho vào một nửa phần bánh, dùng đũa lật phần bánh còn lại úp lên thành hình bán nguyệt. Trở bánh cho vàng đều hai bên, bày ra đĩa đến hơn mười phút sau ăn vẫn giòn.

Đổ bánh công phu là thế, nhưng bánh khoái ngon còn phải nhờ đến nước lèo. Đây cũng là điểm khác biệt giữa bánh khoái và bánh xèo. Nước lèo không phải ai cũng chế biến được, vì nó rất cầu kỳ, với thành phần nguyên liệu khoảng chục loại như: Bột báng, thịt nạc và gan heo (lợn) băm nhỏ, mè (vừng) và đậu phụng (lạc) rang giã nhỏ, tương đậu nành... Tương Huế và gan heo rất quan trọng khi chế biến nước lèo. Tương làm cho nước lèo vừa sền sệt vừa có độ mặn, độ ngọt thích hợp và tạo ra mùi vị đặc trưng Huế. Gan có vị bùi bùi, đậu phụng vừa bùi vừa béo, mè dậy mùi thơm… Chỉ những đầu bếp giỏi, cộng với bí quyết gia truyền mới tạo ra được loại nước lèo đặc chủng, đặc sánh, có màu vàng nâu. Chất lượng nước lèo tạo nên hương vị cao sang của bánh khoái Huế.

Lại còn có sự hỗ trợ, tương tác của dĩa rau sống cũng rất Huế thì món bánh khoái ăn mới khoái và ngon. Dĩa rau sống ngoài xà lách, cải con, chuối chát, khế chua, ớt đỏ, rau thơm, nhất thiết phải có trái vả xắt lát mỏng.

Món bánh khoái thể hiện triết lý ẩm thực của người Huế. Là lối ăn đa sắc, đa vị, đa hương với đủ các màu xanh, đỏ, tím, vàng, trắng khi dọn ra trên bàn. Lại có đủ các vị mặn, nhạt, chua, cay lẫn ngọt, bùi khi tiếp nhận qua vị giác.

Từ bánh xèo dân dã, bánh khoái được nâng lên thành món ăn cung đình, vương phủ. Từ cung phủ, bánh khoái lan truyền trở ra dân gian, trở thành một món ăn đặc trưng và phổ biến của xứ Huế. Giống như cơm hến và bún bò, bánh khoái từ lâu lắm rồi đã trở thành hồn cốt của văn hoá ẩm thực Huế, vừa thân thiết với người Huế, vừa làm say lòng du khách đến với cố đô Huế thơ mộng, cổ kính.

Bún bò Huế

Ở đây, hầu như bún bò đều chỉ bán trong buổi sáng, như thể ăn sáng thì đương nhiên là ăn bún bò vậy. Đầu buổi sáng, bún bò mở ra khắp các nẻo đường từ nội thành ra ngoại ô. Bún bò tiệm, bún bò quán, bún bò gánh, bún bò nhà hàng, bún bò vỉa hè, bún bò trên ghe ngày lụt… Có cảm giác như đi đường nào cũng gặp bún bò. Nơi nhiều bún bò là góc phố Trương Định - Phạm Hồng Thái, bún bà Sen, bún bà Thúy, bún bà Lợi, bún bà Hoa…

Loanh quanh khu vực nam sông Hương đã gặp vô số quán đông khách: bún Phượng (đường Nguyễn Khuyến), bún Thủy, bún bà Tuyết, bún bà Mỹ (đường Nguyễn Công Trứ), bún Cẩm (đường Trần Cao Vân), bún trong hẻm 29 đường Hùng Vương. Phía Vỹ Dạ có bún bà Lan dưới gốc cây gòn và bà Đỗ cạnh cây bàng cổ thụ (đường Nguyễn Sinh Cung).

Khách cần ăn bún xương bò thì đến ngã tư Nguyễn Lương Bằng - Tố Hữu. Nếu ăn bún nạc bò và gân bò thì sang đường Lê Duẩn, cạnh cửa Chánh Tây hay quán bà Hiền ở đường Bà Triệu… Có hai gánh bún vỉa hè lúc nào cũng đông khách, một ở ngã ba Hùng Vương - Trương Định và một nằm trên vỉa hè Trương Định phía sau khách sạn Morin. Đến sau 7g, chị chủ thường lắc tay “hết rồi!”.

Ở bờ phía bắc sông Hương có khá nhiều quán bún ngon trên đường Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tôn hay Phan Đăng Lưu… Ở phố cổ Gia Hội có gánh bún mệ Kéo trên vỉa hè đường Bạch Đằng (gần cầu Gia Hội). Đặc sản của mệ Kéo là bún thịt ba chỉ ăn kèm rau sống có thân cây chuối xắt mỏng, giá bán từ lâu không đổi, mỗi tô 15.000 đồng.

Người Huế ít ăn bún vào buổi chiều, nhưng vẫn có những quán bún đông khách từ 15g30 như bún ông Vọng ở đường Nguyễn Du. Vài năm trở lại đây, quán bún Huế về đêm nở rộ, không chỉ dành cho khách du lịch mà còn cho nhu cầu ăn đêm của người địa phương. Nhiều nhất là dọc đường Hà Nội: bún Mỹ Tâm, bà Gái, bà Hoa 1, 2; rồi thì bà Tuyết trên đường Trần Hưng Đạo, bà Bé đường Nguyễn Sinh Cung, bà Đóa ở đường Mai Thúc Loan…

Làm sao kể hết quán bún bò ở xứ sở bún bò. Kinh nghiệm người sành ăn là nên chọn những gánh bún vỉa hè có đông người địa phương đến ăn. Điều lưu ý đối với khách phương xa là nhớ nhắc người bán về độ cay và lượng nước béo (váng mỡ) sao cho vừa với khẩu vị.

Bún mắm nêm Huế 

Mắm ở Huế không quá mặn, không quá ngọt mà đậm đà và lúc nào cũng cay. Mắm nêm ngon là loại mắm đen, không pha chế, mắm được làm theo công thức đặc biệt  cũng như pha chế theo bí quyết riêng. Mắm khi ăn với bún thường được thêm vào rất nhiều gia vị như tỏi, ớt băm nhuyễn, thơm băm nhỏ và cho cả xác vào.

Ngoài rau thông thường, tô bún mắm nêm ở Huế còn ăn kèm với dưa giá, chua chua giòn giòn rất hấp dẫn. Thịt ăn kèm bún mắm nêm thường là thịt đầu, chả da, thịt ba chỉ, chả lụa, nem hay bò tái…tùy sở thích và khẩu vị riêng. Người Huế thích ăn cay, tô bún mắm nêm thường được cho thêm muỗng ớt màu, vắt thêm ít chanh, trộn đều lên và thưởng thức. Tô bún mắm nêm vừa mang ra, mùi thơm nồng nàn quyến rũ đã kích thích ngay vị giác của thực khách. Mùi mắm thoang thoảng, đậm đà, sợi bún mềm dai, rau và dưa giá giòn giòn. Tất cả tạo nên vị the the, béo béo, cay cay đậm đà ở đầu lưỡi khiến bạn ăn một cách ngon lành. Bún mắm nêm là món được nhiều người dân Huế yêu thích. Mỗi lần ăn là ăn liền hai, ba tô. Đi đâu xa là nhớ và thèm chịu không nổi, ở gần thì dăm ba bữa phải đi ăn cho đã thèm.

Bún mắm nêm là món ăn bình dân và phổ biến ở Huế. Cách làm rất dễ nên có thể tự làm ở nhà và ít mất thời gian. Nếu muốn ăn ngon thì ghé vào các quán bún mắm nêm ở đường Bà Triệu, ở đây nhiều quán san sát nhau tạo nên con đường bún mắm nêm. Đặc biệt, quán bún Mệ Thẻo lâu năm và có hương vị đặc biệt riêng nên rất đông khách. Ở trong Thành Nội thì phải kể đến quán ở góc ngã ba Đoàn Thị Điểm và Đặng Thái Thân, trên đường Yết Kiêu. Ngoài ra trong các chợ, tại các hàng ăn cũng có bán món này, hương vị rất ngon mà giá cũng phải chăng.

Bún mắm nêm không những hấp dẫn đối với người dân địa phương mà còn quyến rũ những ai đã từng đến Huế và từng một lần thưởng thức. Mỗi lần có dịp vào Sài Gòn là mấy đứa bạn lại í ới “Ê mi, đem bún mắm nêm vô được không? Tao thèm quá!”

Nhớ lúc chở cô bạn đại học quê Nghệ An đi ăn bún mắm nêm lần đầu tiên. Thấy tôi bỏ ớt và nói bún mắm nêm ăn cay mới ngon nên cũng bắt chước cho ớt vào tô, nhưng ăn đến đâu thì cô ấy phát khóc đến đó. Hết tô thứ nhất, tôi hỏi ăn nữa không, nó lấy giấy quẹt mũi, quẹt mặt rồi cười mếu máo thêm một tô nữa. Sau này cứ lúc mô đi ăn lại đòi ăn bún mắm nêm.

Người không quen thì nói rằng mùi mắm nêm hôi, người ăn được thì lại cảm thấy thơm – cái mùi thơm nức mũi mà chỉ cần ngửi thôi là đã thèm rỏ nước miếng rồi.

Ai đã từng ăn bún mắm nêm Huế ắt hẳn sẽ không quên được mùi vị đặc biệt ở nơi đây. Bởi nó mang hương vị mặn mà khó quên như tình cảm của người Huế. Lạ thay, cứ nhắc đến là thèm, món bún mắm nêm Huế!

Bánh bèo nậm lọc bà Đỏ

Ở Huế có nhiều quán bánh bèo, nậm lọc nhưng không ai là không biết đến quán bánh lọc bà Đỏ. Dân Huế thường gọi quán bánh bèo, nậm, lọc Bà Đỏ là quán bánh lọc Mụ Đỏ. Ngoài các loại bánh như bánh lọc, bánh bèo, bánh nậm, ở đây còn có món bánh lá chả tôm rất ngon.

Bánh bèo, nậm lọc là món ăn vào bữa xế chiều đầy cảm hứng. Món bánh này rất dễ làm, nguyên vật liệu đơn giản. Bánh bèo đúng nghĩa với chữ bèo bởi mỗi chiếc bánh nhỏ tròn như mỗi cánh bèo, làm bằng bột gạo, rắc thêm tôm chấy, ăn với nước mắm ngọt. Bánh bột lọc là loại bánh vừa dai vừa dẻo lại vừa mềm, làm bằng bột lọc bọc nhụy tôm thịt ăn với nước mắm biển, càng cay càng hấp dẫn, bánh được gói bằng lá chuối hay để trần luộc chín, mỗi dạng đều có một hương vị độc đáo riêng. Bánh nậm giống như bánh lá, về cách chế biến và cả nguyên vật liệu nữa, chỉ khác ở chỗ là bánh lá thường được gói bằng lá dong, bánh nậm gói bằng lá chuối.

Ngoài các loại bánh như bánh lọc, bánh bèo, bánh nậm, ở đây còn có món bánh lá chả tôm rất ngon. Bánh lá chả tôm là món ăn bữa lỡ làm lưu luyến bao người. Bánh làm bằng bột gạo, nhân tôm thịt, hấp chín, chả làm bằng những con tôm tươi sống nguyên chất. Chiếc bánh lá của Huế mềm mỏng (người Huế vốn ăn lấy hương lấy hoa mà). Chả tôm Huế ngon nhờ tôm của sông Huế ngọt, biển Thuận An tươi.

Chiều chiều cùng bạn bè hàn huyên tâm sự, thưởng thức món bánh lá chả tôm thì không còn gì thú vị hơn Người Huế thường ghé quán vào buổi xế chiều. Quán nằm cách xa thành phố nhưng vẫn luôn đông khách.

     Sự kiện xung quanh : Bánh khoái Huế - Bún bò Huế - Bún mắm nêm Huế - Bánh canh cá lóc

Bình luận

Viết bình luận

Bài viết được yêu thích nhất