Bảo Tàng

 

BẢO TÀNG ĐIÊU KHẮC CHĂM

  1. Lịch sử bảo tàng điêu khắc Chăm

Bảo tàng Điêu khắc Chăm được chính thức khánh thành vào đầu năm 1919. Tuy nhiên việc thu thập những tác phẩm điêu khắc Chăm đã bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX, được thực hiện bởi những người Pháp yêu ngành khảo cổ học, đặc biệt là của những người làm việc cho Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp ( L' École francais d' Éxtrême - Orient, viết tắt là EFEO) và những đồng nghiệp Việt Nam.

Khi đó một số hiện vật điêu khắc Chăm đã được chuyển đi Pháp, một số khác được chuyển ra Bảo tàng tại Hà Nội và Bảo tàng tại Sài Gòn, nhưng phần nhiều những tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng. Theo một bức ảnh chụp vào đầu thế kỷ XX cho thấy địa điểm được chọn để tập trung các hiện vật ở Đà Nẵng là một gò đất có nhiều cây lớn, các mảng đài thờ, tượng đá được xếp đặt rải rác ngoài trời – đó cũng là địa điểm của Bảo tàng điêu khắc Chăm ngày nay.

Từ năm 1902 ý tưởng về việc xây dựng ở Đà Nẵng một nhà bảo tàng cho các tác phẩm điêu khắc Chăm đã được manh nha với một đề án của Khoa Khảo cổ thuộc EFEO. Sau đó 17 năm tòa nhà đầu tiên của bảo tàng được chính thức hoàn thành theo thiết kế của hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair. Quá trình xây dựng đề án và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng góp lớn của Henri Parmentier, chuyên gia khảo cổ của EFEO và là một trong những người đầu tiên có đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa Chăm.

Bảo tàng được thiết kế theo kiến trúc Gothique, hài hòa với không gian xung quanh. Phong cách kiến trúc ban đầu này của bảo tàng vẫn còn giữ lại cho đến ngày nay mặc dầu đã trải qua hai lần mở rộng quan trọng:

  1. Lần 1 từ những năm đầu thập kỷ 1930 đến 1936

Giai đoạn này bảo tàng xây dựng thêm hai phòng trưng bày hai bên, thẳng góc về phía trước của tòa nhà cũ, nhằm đủ chỗ để trưng bày thêm những hiện vật mới được thu thập về trong những năm 1920, 1930. Theo ý tưởng của Henri Parmentier,  hiện vật được phân loại để trưng bày theo nguồn gốc địa điểm nơi chúng được phát hiện hoặc khai quật. Không gian của toà nhà bảo tàng gần 1000 m2 đã được bố trí thành những khu vực trưng bày, tạm gọi tên như sau: Phòng Mỹ Sơn - Quảng Trị, Phòng Trà Kiệu, Phòng Đồng Dương, Phòng Tháp Mẫm và các hành lang Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum. Ngoài ra còn có một phòng nhỏ làm kho. Cách bố trí không gian trưng bày này cơ bản vẫn được duy trì cho đến hiện nay.

  1. Lần mở rộng thứ hai

Bảo tàng xây thêm một toà nhà hai tầng ở phía sau khu nhà cũ, với diện tích sử dụng khoảng 2.000 m2 dành cho việc trưng bày và hơn 500 m2 dành làm kho, xưởng phục chế và phòng làm việc. Tại tầng 1 của khu nhà mới này hiện đang trưng bày những hiện vật trước đó còn để trong kho và một số hiện vật sưu tầm được sau năm 1975. Tầng 2 trưng bày về văn hóa Chăm đương đại bao gồm sưu tập về trang phục, nhạc cụ và hình ảnh lễ hội của đồng bào dân tộc Chăm.

Trước năm 2007, Bảo tàng Điêu khắc Chăm là một bộ phận của cơ quan Bảo tàng Đà Nẵng. Ngày 02 tháng 7  năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa - Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng.

  1. Lịch sử vương quốc Champa
    1. Địa bàn

Xét về mặt phân bố địa lý , căn cứ trên văn bia và tư liệu khảo cổ học, biên giới của nhà nước Chămpa vào thời kì mạnh nhất chạy từ Hoành Sơn, Đèo Ngang đến Phan Thiết, phía đông tiếp giáp biển Đông, phía Tây chạy qua vùng cao nguyên dãy Trường Sơn. Theo trục Bắc – Nam, có thể chia Chămpa ra làm 5 tiểu vùng:

1.         Vùng Indrapura, gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.

2.         Vùng Amaravati, gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi.

3.         Vùng Vijaya, gốm Bình Định.

4.         Vùng Kauthara, gồm Khánh Hoà.

5.         Vùng Panduranga, gồm Ninh Thuận và Bình Thuận.

Trung tâm quyền lực của Chămpa có khi nằm ở vùng phía bắc, có khi lại di chuyển về phía Nam qua mỗi thời kì.

  1. Đặc điểm địa hình

Địa hình của vương quốc Champa là vùng đất duyên hải bị chia xẻ, ngăn cách thành các khoang, các vùng bởi nhiều mạch núi từ Trường Sơn đâm ra biển Đông. Mỗi khoang là một dải đồng bằng hẹp nằm hai bên dòng sông ngắn và dốc. Mùa nắng thì thường khô kiệt – nước trong, ít phù sa; mùa mưa thì lũ tràn về dữ dội, lụt lên rất nhanh, mang theo nhiều cát sỏi.

Đường sông dùng để giao thông giữa các vùng dân cư nằm dọc theo bờ sông. Việc giao thông với vùng khác về cơ bản là đường biển.

Đặc điểm địa hình trên đã dẫn đến việc xuất hiện các nhà nước, các tiểu quốc tại mỗi vùng trong lãnh thổ vương quốc Chăm–pa.

  1. Sự hình thành và phát triển nhà nước Champa

Lịch sử vương quốc Chămpa qua sử liệu các quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Đại Việt, Khmer, Java… phản ánh những nét khái quát như sau:

Năm 111 trước Công nguyên, nhà Hán thay thế nhà Triệu xâm lược và thống trị nước Âu Lạc. Ngoài hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân, nhà Hán lập thêm quận Nhật Nam. Quận Nhật Nam chia vùng đất từ Hoành Sơn đến đèo Cù Mông làm 5 huyện Tây Quyển, Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lô Dung và Tượng Lâm.

Thư tịch cổ của Trung Quốc đã ghi chép những cuộc nổi dậy của nhân dân huyện Tượng Lâm như sau: năm 192 nhân lúc nhà Hậu Hán loạn, nhân dân Tượng Lâm nổi dậy giết huyện lệnh, giành tự chủ. Người đứng đầu cuộc khởi nghĩa là Khu Liên (có thể tên này là ghi âm lại từ kurung của ngôn ngữ cổ Đông Nam Á, có nghĩa là tộc trưởng – vua). Theo sách Thủy kinh chú quốc gia mới thành lập này có tên Lâm Ấp, “phía nam giáp nước Phù Nam… lợi dụng núi non hiểm trở, họ không chịu quy phục Trung Quốc” như Tấn thư chép khoảng năm 280. Lương thư (tức bộ sử của nhà Lương, khoảng đầu thế kỷ VII) còn ghi lại phổ hệ những ông vua Chămpa sau Khu Liên như Phạm Hùng, Phạm Dật, Phạm Văn, Phạm Tư Đạt… đều là những tên gọi phiên âm ra tiếng Hán từ chữ Ấn Độ cổ. Như vậy là vào cuối thế kỉ II, tại vùng trung tâm Văn hoá Sa Huỳnh nhà nước Lâm Ấp ra đời.

Tuy nhiên , bia Võ Cạnh ( Nha Trang ) có niên đại khoảng thế kỷ II lại có nhắc đến một triều vua do một người có tôn hiệu là Sri Mara sáng lập ra. Ban đầu, một số ý kiến cho rằng Sri Mara chính là Khu Liên , và đồng nhất hai nhà nước ở hai khu vực là một , nhưng sự đồng nhất này là không logic. Do đó có thể xem cùng thời điểm những năm đầu sau công nguyên trên dải đất miền Trung đã xuất hiện ít nhất là hai vương quốc của những cư dân sau này được gọi là người Chăm. Các nguồn tài liệu chỉ nhắc nhiều đến nhà nước Lâm Ấp nên tên gọi Lâm Ấp có thể là tên gọi đầu tiên của nhà nước Chămpa về sau. Chămpa trên thực tế không phải là một vương quốc thống nhất, mà là một liên bang gồm nhiều tiểu quốc mạnh yếu khác nhau  trong đó các tiểu quốc yếu thần phục những tiểu quốc mạnh hơn.  Các tiểu quốc này đều chịu sự ảnh hưởng của văn minh Ấn giáo.

Trong sử liệu Trung Quốc từ thế kỉ III đến năm 749 Chămpa được gọi là Lâm Ấp, 758 – 859 là Hoàn Vương, và 859 trở về sau là Chiêm Thành.

Lịch sử của Chămpa được tổng hợp lại chủ yếu từ các bia kí tìm thấy rải rác dọc miền Trung Việt Nam, sử liệu của Trung Quốc và Việt Nam. Vì thế đôi khi có nhiều điểm chưa được hợp lí rõ ràng về gia phả , việc lên ngôi và suy yếu,  thoái vị của các đời vua.

Theo trục thời gian, có thể tóm tắt quá trình phát triển từ sau thế kỉ VII của Chămpa như sau:

  • Từ thế kỉ VII , Lâm Ấp chuyển thành Chămpa, kinh đô là Sinhapura đặt tại Trà Kiệu và Mỹ Sơn được chọn là nơi các vua xây dựng đền tháp để thờ các vị thần bảo trợ cho mình và các vị vua được phong thần . Những vị vua được nhắc đến vào trước thế kỉ VII có thể chỉ là vua của những tiểu quốc nhỏ nằm về phía nam đèo Hải Vân .Từ sau thế kỉ VII các tiểu quốc này đã dần thống nhất lại với nhau.
  • Từ năm 758 – 859 là thời kì Hoàn Vương , lúc này  trung tâm quyền lực của Chămpa dời về phía nam, rất nhiều bia kí đã được tìm thấy tại vùng Nha Trang và Phan Rang, thủ đô trên bia ký là Virapura, nhiều đền tháp cũng đã được xây dựng tại khu vực Kauthara - Panduranga trong khoảng thời gian này .
  • Tiếp sau thời kì Hoàn Vương là thời kì Indrapura , kéo dài từ năm 875 – 982. Điểm nổi bật trong thời kì này là việc vua Indravarman II sau khi lên ngôi đã dời đô từ phía nam ra phía bắc, kinh đô là Indrapura, đặt tại Đồng Dương ( Quảng Nam ). Đây là thời kì Phật giáo cực thịnh tại vương quốc Chămpa.
  • Bắt đầu từ thế kỉ X trở về sau ( 988 – 1471) là thời kì Chămpa lui dần lãnh thổ của mình về phía Nam trung bộ và cùng với nó quá trình Nam tiến của Đại Việt. Liên tục trong khoảng thời gian này, giữa hai quốc gia có nhiều cuộc chiến , xung đột , tranh chấp , nhượng bộ . Điển hình như sau :
    • Năm 982, Lê Hoàn lên ngôi. Vua sai sứ Từ Mục và Ngô Tử Canh sang Chămpa. Vua Chăm bắt giữ sứ thần nên Lê Hoàn thân chinh đem quân sang đánh Chămpa, phá thành, giết vua Phi-Mi-Thuế, bắt sống tù binh kĩ nữ, thu về vô số vàng bạc châu báu. Sự kiện này đánh dấu sự sụp đổ của vương triều Indrapura và cuộc nam tiến đầu tiên của Đại Việt. Năm 988, người Chăm tôn một vị lãnh đạo của mình lên ngôi vua ( Harivarman II ), kinh đô đóng tại Vijaya, Bình Định.
    •  Năm 1069 , đáp trả việc vua Chiêm Rudravarman III ( Chế Củ ) liên tục quấy nhiễu biên giới Đại Việt, vua Lý Thánh Tôn thân chinh đem quân đi đánh Chămpa. Vua Chăm bỏ chạy, Lý Thường Kiệt đuổi theo đến biên giới Chân Lạp thì bắt được và giải về Đại Việt. Để được tha mạng về nước, vua Chăm xin dâng ba châu : Bố Chính - Địa Lý – Ma Linh. Từ đây, biên giới Đại Việt được mở rộng , tương đương đến vùng Quảng Trị ngày nay.
    •  Năm 1301, vua Trần Nhân Tông du ngoạn sang Chămpa sau khi liên minh Chămpa - Đại Việt đánh thắng quân Nguyên Mông , và vua hứa gã công chúa Huyền Trân cho vua Chăm Jaya Simhavarman II ( Chế Mân ). Vua Chế Mân xin được dâng Châu Ô và Châu Lý làm lễ cưới. Năm 1306 Huyền Trân được đưa sang Chămpa. Châu Ô và Lý được đổi thành Thuận Châu và Hoá Châu ( tương đương với ranh giới các tỉnh từ Quảng Trị - Quảng Nam ngày nay ). Năm sau ( 1037 ) vua Chế Mân chết, vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung và Đặng Văn sang Chămpa đưa Huyền Trân về. Con Chế Mân là Chế Chí lên ngôi oán giận muốn lấy lại đất cũ. Năm 1311 vua Anh Tông lại đem quân đi đánh Chămpa. Năm 1312 Chế Chí bị bắt và năm sau thì chết.  Liên tiếp sau đó là các cuộc quấy phá giành lại đất của các vua Chămpa  đời sau.
    •  Từ những năm 1371 – 1390 người Chăm dưới sự chỉ huy của vua Chế Bồng Nga nhiều lần đem quân đánh phá Thăng Long gây hoang mang lo sợ cho triều đình nhà Trần . Năm 1390, nhờ sự chỉ điểm của một vị tướng Chăm tên là Ba -Lậu-Kê, đô tướng Trần Khát Chân bắn chết được Chế Bồng Nga trên thuyền chiến, quân Chăm tan rã. Chế Bồng Nga là một vị vua có tài quân sự, tuy nhiên những cuộc chiến tranh liên miên với Đại Việt đã góp phần làm cho Chămpa đã suy yếu lại càng thêm suy yếu.
    •  Từ 1390 – 1471 là thời kì suy tàn của Chămpa. Năm 1402, Hồ Quý Ly sai tướng Đỗ Mẫn đem quân đi đánh Chămpa. Vua Chăm xin nhường Chiêm Động để được bãi binh. Họ Hồ đòi thêm Cổ Luỹ. Chiêm Động và Cổ Luỹ tương đương ranh giới nam Quảng Nam vào đến Quảng Ngãi. Hồ Quý Ly lấy đất chia làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa rồi bắt dân có của mà không có ruộng ở Nghệ An - Thuận Hoá đem gia đình vào khai hoang. Trong khoảng thời gian nhà Minh sang xâm luợc, nhà Hồ mất ngôi, người Chăm đã lấy lại đất từ Hải Vân trở vào Nam. Sau khi nhà Lê chiến thắng nhà Minh, khôi phục độc lập cho Đại Việt, năm 1471 vua Lê Thánh Tông đích thân đem 26 vạn quân đi đánh Chămpa. Vua Lê thắng trận, chiếm được kinh thành Vijaya, bắt được vua Bàn La Trà Toàn, lấy lại Chiêm Động, Cổ Lũy, lấy thêm đất Vijaya để lập ra một đạo mới gọi là đạo Quảng Nam, bao gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay. Chămpa chấm dứt sự tồn tại của mình như một quốc gia độc lập và tiếp tục lui về Nam .

Trải qua các vương triều nhà Nguyễn sau này, Chămpa tiếp tục suy yếu. Vào năm 1832 Chămpa chấm dứt sự tồn tại của mình như một nước chư hầu. Cộng đồng người Chăm từ đó trở thành một trong số 54 cộng đồng dân tộc anh em sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.

III. Sơ lược về các loại hình tôn giáo và ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống và nghệ thuật Champa.

Những thế kỉ đầu công nguyên, Ấn Độ giáo và Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến tôn giáo của các nước trong khu vực Đông Nam Á nói chung và Chămpa nói riêng. Người Chămpa tiếp thu Ấn Độ giáo và Phật giáo , nhưng lại kết hợp với tín ngưỡng bản địa – đó là loại hình tín ngưỡng phồn thực kết hợp thờ cúng Mẹ thần xứ sở và ông bà tổ tiên , thờ các vị vua đã được phong thần . Tất cả những yếu tố này đã hoà quyện vào nhau, tạo nên một Chămpa với các loại hình tôn giáo vừa đa dạng, vừa mang tính đặc thù. Nhìn chung, Ấn Độ Giáo vẫn là loại hình tôn giáo có ảnh hưởng sâu đậm nhất lên xã hội và văn hoá Chămpa. Đạo Phật chỉ phát triển mạnh vào hai thế kỉ IX và X. Vào thế kỉ X đạo Hồi cũng đã ít nhiều đánh dấu sự có mặt của mình tại Chămpa, những mãi đến những thế kỉ XVI – XVII sau này đạo Hồi mới thật sự phát triển mạnh như ngày hôm nay. Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển của mình, tôn giáo đã thật sự đóng vai trò hết sức quan trọng trong nghệ thuật điêu khắc Chămpa. Vì vậy , điêu khắc Chămpa có thể xem như là loại hình điêu khắc phục vụ cho tôn giáo.

Sơ lược về Ấn Độ giáo.

Lịch sử của Ấn giáo bắt đầu từ thời kì tôn giáo Veda. Tôn giáo này là sự kết hợp giữa tín ngưỡng tôn giáo của thổ dân Đravidian và Sumerian ở lưu vực sông Ấn, nơi bộ lạc du mục Aryan từ Trung Á di cư vào. Trước khi người Aryan du nhập vào Ấn Độ, họ đã đạt được một trình độ văn hoá cao dựa trên cơ sở nông nghiệp và chăn nuôi. Tín ngưỡng của họ gắn liền với việc thờ Thần Mẹ và sự thờ cúng âm lực, coi âm vật của đàn bà là nguồn gốc của mọi sự sáng tạo. Bên cạnh đó họ còn thờ cả vị nam thần mà tượng trưng là thần Núi , thần Cây , thần Rắn , thần Súc vật … Tuy nhiên có nhiều sự vật, hiện tượng trong tự nhiên họ không thể nào lí giải nổi nên dần dần bản chất và vai trò của các vị thần trong Rig Veđa thay đổi, nhường chỗ cho một vị thần tối cao. Vào nửa thế kỉ thứ I trước công nguyên, Bà la môn giáo ra đời, kinh điển cơ bản là Veda. Theo Bà la môn giáo, thần sáng thế Brahma là thần tối thượng. Bà la môn giáo truyền bá giáo thuyết về luân hồi, nghiệp báo và giải thoát, khẳng định vị trí tôí cao trong xã hội đẳng cấp Bà la môn, kêu gọi mọi người tuân thủ bổn phận của mình vì đó là điều kiện giải thoát linh hồn. Xã hội Bà la môn bấy giờ được chia thành giai cấp thống trị và bị trị. Giai cấp thống trị gồm những thầy tu Bà la môn và võ sĩ quí tộc. Giai cấp bị trị gồm nông dân tự do , thợ thủ công và nô lệ cùng đinh. Tuy nhiên về sau , đẳng cấp võ sĩ quí tộc ngày càng mạnh dần lên, vương quyền bắt đầu lấn át thần quyền, trong xã hội quần chúng nông dân và thợ thủ công yêu cầu xoá bỏ chế độ ngặt nghèo và các nghi lễ hiến tế . Trước tình hình đó , đạo Bà la môn phải chuyển thành Ấn Độ giáo, dung hợp mọi thứ tín ngưỡng lại thành một hệ thống thần thoại mới, hệ thống Trimurti ( hệ thống ba thần ) . Ấn độ giáo là một hệ thống tín ngưỡng đa thần, và ba vị thần trung tâm là :

  • Thần Brahma tượng trưng cho sự sáng tạo, sinh sôi , nảy nở .
  • Thần Vishnu tượng trưng cho sự bảo tồn, duy trì sự sống .
  • Thần Siva tưọng trưng cho sự huỷ diệt và sáng tạo .
  • Người Chăm tiếp thu Ấn Độ giáo, và theo hệ phái Siva, đề cao vai trò và sức mạnh của thần Siva.

 

BẢO TÀNG ĐÀ NẴNG

Bảo tàng ít khi là điểm đến thu hút du khách, thế nhưng nếu thử dừng chân tại bảo tàng Đà Nẵng, du khách có thể khám phá nhiều không gian trưng bày và thấy thú vị bởi ẩn sau mỗi hiện vật, mỗi bối cảnh là câu chuyện đời sống, văn hóa của Đà Thành qua bấy nhiêu năm tháng.

 

Bảo tàng Đà Nẵng thành lập từ năm 1989, được xây dựng mới tại địa điểm số 24 Trần Phú (phường Thạch Thang, quận Hải Châu), trong khuôn viên Di tích Quốc gia Thành Điện Hải. Bảo tàng Đà Nẵng được đầu tư phương tiện trưng bày, thiết bị nghe nhìn và hệ thống chiếu sáng hiện đại. Đội ngũ thuyết minh, hướng dẫn khách tham quan được đào tạo khá bài bản. Bảo tàng Đà Nẵng chính thức khánh thành, mở cửa đón khách tham quan vào ngày 26 tháng 4 năm 2011.

 

Không gian trưng bày với diện tích hơn 3000m2 gồm 3 tầng giới thiệu hơn 2.500 tư liệu, hình ảnh, hiện vật có giá trị về lịch sử, văn hóa của thành phố Đà Nẵng và vùng phụ cận; trong đó có hơn 1.900 hiện vật gốc được sưu tầm từ sau ngày giải phóng đến nay, đặc biệt có nhiều tư liệu hiện vật quý, lần đầu tiên ra mắt công chúng.

 

Mở đầu không gian trưng bày của Bảo tàng Đà Nẵng là gian long trọng, được thiết kế theo hình vòng cung, lấy ý tưởng từ thế đất Đà Nẵng như một vòng tay lớn ôm lấy biển khơi. Trung tâm của không gian này là hình ảnh 5 cánh buồm, tượng trưng cho thành phố biển đang vươn ra biển lớn, trên đó khắc họa các bức phù điêu với nội dung: Đà Nẵng trong tiến trình lịch sử của đất nước.

 

Nội dung trưng bày của Bảo tàng bao gồm các chủ đề:

Tầng 1: Giới thiệu các bộ sưu tập

* Một số hình ảnh và hiện vật về điều kiện tự nhiên

- Hệ sinh thái tự nhiên của thành phố Đà Nẵng

- Địa chất, khoáng sản

- Khí hậu, thủy văn

* Sưu tập về Đà Nẵng thời Tiền - Sơ sử

* Các bộ sưu tập cổ vật

* Đời sống ngư dân và cảng biển Đà Nẵng

* Một số hình ảnh đô thị Đà Nẵng trước 1975

* Hình ảnh Đà Nẵng hội nhập và phát triển

* Nông nghiệp cổ truyền

* Các ngành nghề thủ công tiêu biểu của thành phố Đà Nẵng

- Nghề làm bánh tráng Túy Loan

- Nghề làm nước mắm Nam Ô

- Nghề điêu khắc đá Non Nước

 

Tầng 2:

Giới thiệu các bộ sưu tập

* Thành phố Đà Nẵng anh hùng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược.

- Đà Nẵng mở đầu mặt trận chống Pháp (1858 - 1860)

- Các phong trào yêu nước trước 1930

- Các tổ chức cơ sở Đảng trước năm 1945

- Đà Nẵng trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954)

- Đà Nẵng trong kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975)

- Đà Nẵng - thành phố anh hùng

* Chứng tích chiến tranh của quân đội Mỹ ở chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng và miền Nam Việt Nam.

 

Tầng 3:

* Giới thiệu các bộ sưu tập hiện vật và hình ảnh về cộng đồng các dân tộc ở thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam với các bộ sưu tập tiêu biểu như:

 - Công cụ lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc

 - Y phục, trang sức của đồng bào các dân tộc

 - Nghề dệt vải, nghề đan của đồng bào các dân tộc

 - Nhạc cụ tiêu biểu của đồng bào miền núi Quảng Nam

 - Tín ngưỡng và một số tập tục của đồng bào các dân tộc

* Phòng chiếu phim: có 30 ghế ngồi, trình chiếu các bộ   phim tư liệu về lịch sử, văn hóa và xã hội của thành phố Đà Nẵng.

 

BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH-CHI NHÁNH QUÂN KHU 5

Bảo tàng Quân Khu 5 được khánh thành đưa vào sử dụng ngày 7/01/1982 với diện tích trưng bày 8.819m2. Năm 1995, Bảo tàng Khu 5 được Nhà nước xếp hạng là Bảo tàng Quốc gia hạng hai. Bảo tàng gồm 2 phần:


Khu trưng bày ngoài trời rộng 5.451 m2: Có các vũ khí thể khối lớn như: máy bay, xe tăng, xe bọc thép, các pháo từ 75mm đến 175mm..., các loại vũ khí của quận đội Pháp, Mỹ bị bộ đội Khu 5 đánh bại thu được và sử dụng đánh địch trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. 

 

12 phòng trưng bày bên trong rộng 3.368m2: Trưng bày hàng ngàn hình ảnh, hiện vật về sự ra đời, chiến đấu và chiến thắng của các lực lượng vũ trang khu 5 trong 56 năm qua (1945-2001). Đặc biệt có nhiều hình ảnh, hiện vật quý hiếm được trưng bày thể hiện sự sáng tạo, độc đáo, hiệu quả của sức mạnh chiến tranh nhân dân địa phương ở Khu 5 trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Khu mô hình nhà sàn Hồ Chí Minh và vườn cây, ao cá: sau khi giải phóng, thể theo nguyện vọng, tình cảm của đồng bào và cán bộ, chiến sĩ Khu 5 đối với Bác Hồ kính yêu, mô hình nhà sàn được xây dựng (giống như nhà sàn Hồ Chí Minh ở Hà Nội) tại trung tâm thành phố Đà Nẵng, bên ngoài là vườn cây, ao cá... tạo nên một khuôn viên thoáng mát, đẹp thu hút nhiều du khách khi đến thăm thành phố

 

Đặc biệt Bảo tàng có trưng bày nhiều hiện vật quý hiếm thể hiện tấm lòng son sắt, thuỷ chung của đồng bào, cán bộ và chiến sĩ khu 5 đối với Bác Hồ và tình cảm sâu nặng của Bác Hồ đối với đồng bào, chiến sĩ khu 5.  

Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu hướng dẫn tham quan của Mai Hiếu Nhi; danangtourism.gov.vn                                

 

LIÊN HỆ